PHẦN 1.1 : PHÂN TÍCH KỸ THUẬT LÀ GÌ ?.

Viết bởi: Thành Doji Ngày đăng: 12/03/2019

1. Phân tích kỹ thuật là gì ?.

 


Trong tài chính, phân tích kỹ thuật là một phương pháp phân tích chứng khoán dự báo hướng của giá cả thông qua việc nghiên cứu các dữ liệu thị trường quá khứ, chủ yếu là giá cả và khối lượng.
Như dự báo thời tiết, Phân tích kỹ thuật không hoàn toàn chính xác tuyệt đối. Thay vào đó, Phân tích kỹ thuật có thể giúp nhà đầu tư dự đoán về khả năng diễn biến giá trong tương lai là gì. Phân tích kỹ thuật sử dụng nhiều dạng biểu đồ liên quan đến giá trong quá khứ
Phân tích kỹ thuật có thể áp dụng cho chứng khoán, chỉ số, hàng hóa, tương lai hay các khí cụ nào có thể giao dịch được trong đó giá chịu ảnh hưởng từ áp lực cung cầu. giá đề câp tới mối liên kết giữa giá cao, thấp , giá mở cửa, đóng cửa của chứng khoán thông qua các khung thời gian khác nhau. Khung thời gian có thể trong ngày ( từ 1 phút, 5 phút, 10 phút, 15 phút, 30 phút cho tới hàng giờ…), hàng ngày, hàng tuần hay hàng tháng, hàng năm. Ngoài ra, một số nhà Phân tích kỹ thuật còn sử dụng khối lượng và chỉ số lãi suất khi nghiên cứu về diễn biến giá

 

2. Phân tích kỹ thuật ra đời khi nào ?.

 

Các nguyên tắc của phân tích kỹ thuật xuất phát từ hàng trăm năm dữ liệu thị trường tài chính.Một số khía cạnh của phân tích kỹ thuật đã bắt đầu xuất hiện trong các bản miêu tả của Joseph de la Vega về thị trường Hà Lan trong thế kỷ 17. Ở châu Á, phân tích kỹ thuật được cho là một phương pháp được Homma Munehisa phát triển vào đầu thế kỷ 18, biến hóa thành việc sử dụng các kỹ thuật nến, và ngày nay là một công cụ lập biểu đồ phân tích kỹ thuật. Trong những năm 1920 và 1930, Richard W. Schabacker xuất bản một số cuốn sách, là sự tiếp nối công việc của Charles Dow và William Peter Hamilton trong các cuốn sách Lý thuyết và thực tiễn thị trường chứng khoán và Phân tích thị trường kỹ thuật của họ. Năm 1948, Robert D. Edwards và John Magee xuất bản Phân tích kỹ thuật các xu hướng cổ phiếu, được coi rộng khắp là một trong những công trình có ảnh hưởng sâu rộng của lĩnh vực kiến thức này. Nó chủ yếu liên quan tới phân tích xu hướng và các hình mẫu biểu đồ và vẫn còn được sử dụng cho đến nay. Gần như hiển nhiên, phân tích kỹ thuật ban đầu hầu như chỉ là phân tích các biểu đồ, vì sức mạnh xử lý của máy tính là không có sẵn để phân tích thống kê. Charles Dow được coi là đã khởi thủy một hình thức của phân tích biểu đồ điểm và số.

Lý thuyết Dow dựa trên tập hợp các bài viết của người đồng sáng lập Dow Jones kiêm biên tập viên là Charles Dow, và lấy cảm hứng từ việc sử dụng và phát triển của phân tích kỹ thuật hiện đại vào cuối thế kỷ 19. Những người tiên phong khác của các kỹ thuật phân tích bao gồm Ralph Nelson Elliott, William Delbert Gann và Richard Wyckoff, những người đã phát triển các kỹ thuật tương ứng của họ trong những năm đầu thế kỷ 20. Thêm nhiều công cụ kỹ thuật và lý thuyết đã được phát triển và mở rộng trong những thập kỷ gần đây, với sự nhấn mạnh ngày càng tăng về các kỹ thuật được máy tính hỗ trợ, sử dụng phần mềm máy tính được thiết kế chuyên biệt.

 

3 . Các ưu nhược điểm của phân tích kỹ thuật .

a. Ưu điểm.

Mục tiêu chính là dự đoán giá tương lai, có nghĩa là tập trung vào xu hướng. Diễn biến giá thường đi trước phân tích cơ bản. Bằng cách tập trung vào diễn biến giá cả, các nhà phân tích kỹ thuật sẽ dự đoán được giá tương lai. Thị trường thường có một chỉ số chính dẫn dắt nền kinh tế từ 6 đến 9 tháng. Để bắt kịp với thị trường cần xem xét trực tiếp vào diễn biến giá cả. Mặc dù thị trường dễ phản ứng với những thay đổi đột ngột, nhưng những manh mối kỹ thuật thường phát triển trước những khi có sự biến động lớn của thị trường.

 

Cung, cầu và diễn biến giá

 

Nhiều nhà phân tích kỹ thuật sử dụng giá mở cửa, đóng cửa, cao, thấp khi phân tích diễn biến giá. Đây là những thông tin phản ánh lực cung cầu khá hữu ích.
Ví dụ chú thích ở trên cho thấy một cổ phiếu với giá mở cửa cao hơn cây liền trước. Trước khi mở cửa, số lệnh mua vượt quá số lệnh bán và giá đã tăng lên để thu hút thêm người bán. Nhu cầu mua đã hình thành ngay từ trước. Mức cao trong ngày phản ánh sức mạnh của nhu cầu (người mua). Mức giá trong ngày phản ánh sự sẵn có của nguồn cung (người bán). Giá đóng cửa đại diện cho giá cuối cùng được thỏa thuận bởi người mua và người bán. Trong trường hợp này, mức đóng cửa thấp hơn rất nhiều so với mức thấp. Điều này cho thấy mặc dù nhu cầu (người mua) vẫn mạnh trong ngày, nguồn cung (người bán) cuối cùng đã chiếm ưu thế và buộc giá giảm. Ngay cả sau khi áp lực bán ra, giá đóng cửa vẫn ở trên giá mở cửa . Bằng cách xem xét diễn biến giá trong một khoảng thời gian dài, chúng ta có thể thấy cuộc chiến giữa cung và cầu. Về cơ bản, giá cao hơn phản ánh nhu cầu tăng và giá thấp hơn phản ánh nguồn cung tăng.

 

Hỗ trợ và kháng cự

 

Phân tích biểu đồ đơn giản có thể giúp xác định mức hỗ trợ và kháng cự. Chúng thường được đánh dấu bởi các khoảng thời gian nghẽn giao dịch (phạm vi giao dịch), trong đó giá di chuyển trong phạm vi hạn hẹp trong một khoảng thời gian dài cho ta biết rằng lực cung và cầu đã bế tắc. Khi giá vượt ra khỏi trading range nó báo hiệu rằng cung hoặc cầu đã bắt đầu vượt lên. Nếu giá di chuyển trên biên trên của trading range thì bên mua sẽ thắng. Nếu giá di chuyển xuống vùng biên dưới của range cho ta biết rằng bên bán đang thắng thế.

 

Giá lịch sử

 

Ngay cả khi bạn là một nhà phân tích cơ bản đã cố gắng và thực sự, một biểu đồ giá có thể cung cấp nhiều thông tin có giá trị. Biểu đồ giá là bức tranh lịch sử dễ hiểu trong một khoảng thời gian. Các biểu đồ dễ đọc hơn nhiều so với một bảng các con số. Trên hầu hết các biểu đồ cổ phiếu thanh khối lượng được hiển thị ở dưới cùng. Với dữ liệu lịch sử này, rất dễ để xác định những điều sau:
Phản ứng trước và sau các sự kiện quan trọng.
Biến động quá khứ và hiện tại.
Khối lượng giao dịch trong lịch sử
Sức mạnh tương đối của một cổ phiếu so với toàn bộ thị trường.

 

Hỗ trợ tìm điểm vào

 

Phân tích kỹ thuật có thể giúp xác định thời điểm thích hợp. Một số nhà phân tích sử dụng phân tích cơ bản để quyết định mua gì và Phân tích kỹ thuật để quyết định khi nào mua. Không có gì bí mật khi thời gian có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện. Phân tích kỹ thuật có thể giúp xác định vùng cầu (hỗ trợ) và vùng cung (kháng cự). Đơn giản chỉ cần chờ đợi sự vượt lên trên ngưỡng kháng cự hoặc mua gần các mức hỗ trợ có thể cải thiện lợi nhuận.
Điều quan trọng là phải biết lịch sử giá cổ phiếu. Nếu một cổ phiếu mà bạn cho là tuyệt vời trong 2 năm qua đã giao dịch đi ngang trong hai năm, có vẻ như Wall Street có ý khác. Nếu một cổ phiếu đã tăng giá đáng kể, có thể được khôn ngoan để chờ đợi cho một pullback. Hoặc nếu cổ phiếu có xu hướng giảm có thể phải chờ đợi lực mua và xu hướng đảo chiều.
 

 b. Nhược điểm .

 

Sai số trong phân tích


Cũng giống như với phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật là chủ quan và những ý kiến cá nhân của chúng ta có thể được phản ánh trong phân tích. Điều quan trọng là phải nhận thức được những ý kiến này khi phân tích biểu đồ. Nếu nhà phân tích thị trường bullish, thì xu hướng tăng sẽ làm lu mờ sự phân tích. Mặt khác, nếu nhà phân tích tin rằng thị trường bearish thì phân tích có lẽ sẽ nghiêng về xu hướng giảm.


Tính tương đối


Mặc dù có các tiêu chuẩn, nhiều lần hai nhà phân tích kỹ thuật xem cùng một biểu đồ nhưng lại đưa ra hai kịch bản khác nhau. Cả hai sẽ có thể đưa ra mức hỗ trợ hợp lý và mức kháng cự chính để biện minh cho phân tích của họ. Mặc dù điều này có thể gây bực bội nhưng cần phải chỉ ra rằng phân tích kỹ thuật giống như nghệ thuật hơn là khoa học. Mọi chuyện đều có tính tương đối, phụ thuộc vào mắt của người xem.


Quá trễ


Phân tích kỹ thuật đã bị chỉ trích vì đã quá muộn. Đến thời điểm xu hướng này được xác định, thị trường đã vận động đáng kể. Sau một động thái lớn như vậy, tỷ lệ lãi:lỗ không còn lớn nữa. Sự trễ là một sự chỉ trích đặc biệt của lý thuyết Dow.
Luôn có một thái cực khác
Ngay cả sau khi một xu hướng mới đã được xác định luôn có một cái nhìn khác. Ngay cả khi họ đang lạc quan luôn có một số chỉ số hoặc mức độ nào đó sẽ ảnh hưởng đến tam lý giao dịch.


Nhiễu


Không phải tất cả tín hiệu và mô hình kỹ thuật đều hoạt động đúng. Khi bạn bắt đầu nghiên cứu phân tích kỹ thuật bạn sẽ gặp một loạt các mô hình và chỉ số với các quy tắc để kết hợp. Ví dụ: Một tín hiệu bán được đưa ra khi đường viền cổ của một mô hình đầu và vai bị phá. Mặc dù đây là một quy tắc nó không phải là bất di bất dịch và có thể phải chịu các yếu tố khác như khối lượng và momentum. Mặc dù nhiều nguyên tắc của phân tích kỹ thuật là phổ quát, nhưng môi người lại chọn hướng đi cho riêng mình.


Kết luận


Các nhà phân tích kỹ thuật cho rằng thị trường 80% là do tâm lý và 20% là do suy luận logic hợp lý. Các nhà phân tích cơ bản cho rằng điều ngược lại mới đúng. Tâm lý hoặc logic có thể mở ra cuộc tranh luận bất tận, nhưng không có nghi ngờ về giá cả hiện tại. Sau tất cả, giá là thứ mà tất cả chúng ta đều quan tâm và không ai nghi ngờ tính hợp pháp của nó. Giá được xác định bởi tổng hòa hành vi của tất cả người tham gia. Những người tham gia đã xem xét tất cả mọi thứ dưới phân tích của họ để mua hoặc bán. Đây là những lực lượng cung và cầu trong thị trường. Bằng cách theo dõi diễn biến giá để xác định lực nào chiếm ưu thế, phân tích kỹ thuật tập trung trực tiếp vào điểm mấu chốt: Giá là gì? Nó đã ở đâu? Nó đang đi đâu?

Mặc dù có một số nguyên tắc phổ quát và các quy tắc có thể được áp dụng, cần nhớ rằng phân tích kỹ thuật là một nghệ thuật hơn là khoa học. Là một nghệ thuật nó được giải thích. Tuy nhiên, cũng cần linh hoạt trong cách tiếp cận và mỗi nhà đầu tư chỉ nên sử dụng những gì phù hợp với phong cách của mình. Phát triển một phong cách cần có thời gian, công sức và sự đam mê nhưng phần thưởng có thể là đáng kể.

 

Hotline
Zalo
Hotline tư vấn miễn phí: 089 880 33 78